Cảm nghĩ của em về bài thơ thương vợ lớp 11 của Tú Xương ngắn gọn hay nhất

0
86

Nhắc đến dòng thơ trào phúng đầy hóm hỉnh, độc đáo mang đậm ý nghĩa phê phán, trào phúng ta không thể không nhắc tới nhà thơ Tú Xương- một bậc thầy trong nền văn học Việt Nam. Không chỉ mang đến những tác phẩm thơ trào phúng sắc nhọn ông còn mang đến cho người đọc những bài thơ trữ tình đong đầy tình yêu thương, tình người,tình đời sâu sắc. Trong đó bài thơ ” Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất mang theo tâm sự và tràn đầy tình yêu thương của nhà thơ đối với người vợ hiền.

 

 

Quanh năm buôn bán ở mon sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!

Một số bài viết hay liên quan:

  1. Cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước
  2. Cảm nghĩ về bài Sang Thu
  1. Cảm nghĩ và bài Rằm tháng giêng

 

Bài thơ như chính nỗi lòng của ông Tú muốn nói với bà Tú khi nhà đông con, công việc dậy học của ông lại bấp bênh để bà phải trở thành trụ cột nuôi cả một đại gia đình. Sáu câu thơ đã giúp người đọc hình dung một cách chân thực nhất về hình ảnh bà Tú- một người vợ đảm đang:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

 

“Quanh năm buôn bán” đã diễn tả phần nào hết những tháng ngày bận  rộn vất vả của bà Tú khi phải bươn chải để nuôi gia đình gánh vác thay ông Tú. Sự vất vả này kéo dài hết ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, không lấy một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú buôn bán ở “mom sông” chứ không phải ở chỗ nào đẹp hay bằng phẳng mà chỉ ở nơi mà mỏm đất nhô ra, nơi được bao bọc bởi tứ bề là sông nước, cái thế chênh vênh của một người phụ nữ khi đứng ở nơi khó khăn để buôn bán kiếm tiền nuôi gia đình. Ta bất chợt như thấy hình ảnh của một người phụ nữ nhỏ bé, vất vả cô đơn . Hình ảnh này như gợi lên một cuộc đời đầy cay đắng, một cuộc đời tràn đầy cơ cực, vật lộn với nguy hiểm để nuôi gia đình, nuôi ” đủ năm con với một chồng.

 

Câu thơ như chất chứa nỗi xót xa sự chua chát của một người đàn ông khi chẳng thể cho vợ con được cuộc đời an nhàn, mà phải để vợ bươn chải tự mình kiếm tiền nuôi gia đình với nhiều khó khăn. Gánh nặng ấy ông hiểu nhưng chẳng thể giúp bà san sẻ, gánh vác cùng bà.

 

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

 

Hình ảnh thân cò thường được xuất hiện và bắt gặp trong rất nhiều trong lối so sánh ví von của thơ ca xưa khi được nhắc tới phụ nữ. Hình ảnh “thân cò” ở đây cũng khiến cho người đọc bao liên tưởng xót xa, đầy cảm động khi nhắc đến bà Tú, cũng giống như bao người phụ nữ khác vất vả, cực khổ, gian nan trong xã hội cũ. Cánh cò ấy phải buôn bán, bươn chải nơi “quãng vắng” thật rất lắm khó khăn, cô đơn và hiểm nguy luôn rình rập.

 

“Eo sèo” là từ tượng thanh khiến cho câu thơ tràn đầy sự cô đơn, buồn tẻ. Vì bát cơm manh áo mà bà Tú phải buôn bán nơi “quãng vắng” phải lặn lội nắng mưa, phải giành giật “eo sèo” phải trả giá bằng mồ hôi và nước mắt. Thật đáng thương xót và đau lòng biết bao nhiêu!

 

Hai câu thơ tiếp theo như hai câu luận cân đối, sáng tạo:

“Một duyên hai nợ, âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”

 

Lời thơ như chính tiếng lòng của bà Tú khi chấp nhận với cuộc sống hiện tại nào “dám quản công”. Chữ “duyên” là duyên phận , là số kiếp định sẵn mà cuộc đời bà Tú phải cam chịu, từ “nắng, mưa” như tượng chính cho những khổ cực mà bà phải gánh chịu. Lời thơ không chỉ dừng lại ở đó mà còn như tăng dần lên để khắc họa chân thực nhất những hi sinh mà bà Tú phải bỏ ra khi phải lo cho gia đình thông qua việc sử dụng các số từ: một, hai, năm, mười…” Âu đành phận”, ” giám quản công” thật khiến cho người ta chua xót, thương cảm, thương chính thân phận nhỏ bé khổ cực của bà Tú nói riêng cũng như những người phụ nữ xưa nói chung.

 

Hai câu thơ cuối như cách chính ông đang tự trách mình:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

 

Ông đang trách mình, ông thương vợ ông, ông là chồng mà chẳng thể gánh vác gia đình thay vợ, chẳng thể để cho vợ ông được lấy một ngày nghỉ ngơi an nhàn. Nhưng ông cũng tự trách số phận mình, trách cuộc đời đen bạc để ông có tài nhưng chẳng thể có công danh. Lời tự trách sao mà ai oán, chua xót thế!

 

Hai câu cuối là cả một nỗi niềm tâm sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một tri thức giàu nhân cách, nặng tình đời, yêu vợ, thương con.

 

Ngôn ngữ thơ bình dị, thể thơ thất ngôn bát cú quen thuộc, các chi tiết thơ sử dụng chọn lọc, tinh tế sâu sắc cùng lối thơ đầy hóm hỉnh, sâu cay đã khắc họa lên bức tranh thơ ” thương vợ” đầy ý vị, trừ tình mà sâu sắc. Đây là bài thơ nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong thơ cũng rất gần gũi với người mẹ, người bà trong mỗi gia đình Việt Nam.