Cảm nghĩ của em về bài thơ Viếng Lăng Bác hay nhất

0
65

Nhắc đến Bác Hồ- lãnh tụ vĩ đại kính yêu của dân tộc Việt Nam thì tình cảm của những người con đất Việt luôn trào dâng niềm kính yêu và tình yêu thương vô hạn dành cho Người. Trong thơ ca Việt Nam cũng có không ít những bài thơ, văn viết về Người với những cảm xúc chân thật và mãnh liệt nhất trong số đó sẽ là đáng tiếc khi ta không nhắc tới bài thơ “Viếng Lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương. Bài thơ như bài ca quen thuộc mỗi khi nhắc đến Bác và đã được phổ nhạc để góp phần nhỏ bé vào thành công trong tác phẩm âm nhạc cũng như văn học khi viết về Người.

 

Thơ Viễn Phương vừa giàu chất tâm trạng vừa giàu chất suy tưởng, vừa hiện thực lại vô cùng trữ tình… tất cả những xúc cảm và rung động khác nhau đã tạo nên một Viếng Lăng Bác vô cùng độc đáo và hấp dẫn.

 

Khổ đầu bài thơ như một cái gì đó bỡ ngỡ, thân thuộc mà cũng xa lạ:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng”

 

Những câu thơ mở bài ngay đầu tiên đã thấy dâng trào trong từng câu chữ là một cảm xúc rõ rệt và khác biệt của nhà thơ. Đặc biệt đây lại là tâm trạng của những người con ở xa trở về thăm Bác cũng như tâm trạng của một người cháu, người con trở lại thăm lại người thân ruột thịt của chính mình.

Một số bài viết liên quan:

  1. Cảm nhận về bài Ánh trăng
  2. Cảm nhận về bài Sang Thu
  3. Cảm nhận về bài Rằm tháng giêng

Chỉ đứng  từ xa thôi nhà thơ đã hướng ánh nhìn và trái tim về nơi bác yên nghĩ nơi có những hàng tre bát ngát trong sương sớm, những hàng tre xanh bát ngát đứng đó trang nghiêm và  hùng vĩ như biểu tượng cho con người Việt dù bão táp mưa sa vẫn hiên ngang đứng đó với ý chí mạnh mẽ.

 

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

 

Bác nằm đó hiền từ và dịu dàng nhưng dường như Bác vẫn như đang dõi theo từng bước đi, từng sự thay đổi của cả dân tộc, của đất nước Bác đã từng hy sinh và yêu thương bằng cả trái tim  mình. Hình ảnh “mặt trời” được nhắc lại liên tiếp trong hai câu thơ như bổ sung ý nghĩa cho nhau, mặt trời thứ nhất là mặt trời thực, mặt trời thứ 2 là mặt trời ẩn dụ cho Bác. Thật độc đáo khi so sánh Bác với mặt trời một biểu tượng bất diệt, vĩnh hằng và cao quý. Mặt trời ẩn dụ ấy vẫn ngày ngày chiếu sáng và mang hơi ấm cho tất cả trái tim và tâm hồn con người đất Việt. Màu sắc đỏ của mặt trời khiến cho câu thơ sống động và sâu sắc hơn.

 

Từng dòng người mang theo những  bông hoa rực rỡ nhất, tươi thắm nhất ngày ngày tiến vào trong lăng để dâng lên Bác, tưởng nhớ đến Bác với những tấm lòng thành kính và thương tiếc khôn nguôi. “Bảy mươi chín mùa xuân” Bác đã dâng hiến cả thanh xuân, cả nhiệt huyết, trái tim của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sự thương xót này, tiếc thương này vẫn mãi mãi tồn tại trong lòng người dân Việt nam mỗi khi nhắc đến người.

 

“Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng trong dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim”

 

Bác tuy đã trở về với sự vĩnh hằng và bất diệt đã yên nghỉ nhưng với những người con dân Việt Nam bác chỉ nằm đó với một giấc ngủ bình yên, một giấc ngủ dịu hiền như ánh trăng sáng ngoài kia, mát lành và ấm áp. Hai câu thơ cuối ẩn chứa sự xót thương vô hạn khi dùng hai từ” vẫn biết” và “mà sao” tác giả muốn nói đến hiện thực đến hiện thực chính là sự ra đi của Bác nhưng trong suy nghĩ của tác giả vẫn muốn đó không phải là sự thật để đến khi trở về với hiện tại là cảm giác” nhói trong tim”.

 

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

 

Khổ thơ cuối chính là lúc tâm trạng của nhà thơ được đẩy lên cao nhất, tác giả dùng từ ” thương trào nước mắt” đã nói lên rõ sự thương xót cao trào của nhà thơ dành cho sự ra đi mãi mãi của Bác. Sự thương xót ấy không chỉ của riêng mình nhà thơ mà còn là của nhân dân miền Nam khi không có điều kiện ra thăm Bác cũng như của cả dân tộc. Sự thương xót ấy đã hóa thành ước muốn: làm con chim, làm đóa hoa, làm cây tre để được ở bên Bác, để được dâng lên Bác những hương thơm nhất, để được “trung hiếu chốn này”.

 

Bài thơ được viết lên bởi những từ ngữ vô cùng giản dị và bằng cả một trái tim chân thành và sâu sắc nhất trước vị cha già kính yêu của dân tộc. “Viếng lăng Bác” đã mang đến cho người đọc những xúc cảm đặc biệt, sự rung động mãnh liệt nơi trái tim. “Viếng  lăng Bác” thật xứng đáng là bài thơ hay là viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam khi viết về Bác.